9/18/2013

Quỹ từ thiện của Bill Gates mang internet công cộng tới cho vùng sâu Việt Nam

“Người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa của 16 tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, miền Trung – Tây Nguyên và Tây Nam bộ sẽ tiếp tục được tiếp cận Internet thông qua hệ thống thư viện công cộng (TVCC) và điểm bưu điện văn hóa xã (BĐVHX) trong năm 2014 sắp tới” – đó là khẳng định của ông Phan Hữu Phong, Giám đốc Ban Quản lý Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam”. Quỹ từ thiện của Bill Gates mang internet công cộng tới cho vùng sâu Việt Nam Ảnh minh họa “Internet khiến việc lưu chuyển thông tin tăng lên rất nhanh trong tất cả các dịch vụ và phương tiện thông tin thư viện, khiến các dịch vụ này có phạm vi phục vụ rộng hơn, vượt ra ngoài giới hạn của các bức tường nhà thư viện. Trong nỗ lực hỗ trợ người dân tại vùng khó khăn tiếp cận máy tính và thông tin một cách bình đẳng, các BĐVHX là một lựa chọn tốt. Bên cạnh các dịch vụ bưu chính viễn thông, các bưu điện văn hóa xã sẽ tăng cường các dịch vụ cung cấp thông tin qua máy tính và sách, báo” – ông Phong nói. Tiếp theo Giai đoạn 1 triển khai năm 2013 tại 12 tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng, giai đoạn 2, Dự án sẽ tập trung vào các tỉnh là Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bắc Kạn, Cao Bằng và Lạng Sơn. Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập internet công cộng tại Việt Nam” do Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ và được Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND 40 tỉnh, Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VietnamPost) và các đơn vị liên quan triển khai tại 400 điểm TVCC và 1.000 điểm BĐVHX, 500 thư viện xã trên địa bàn 40 tỉnh khó khăn tại Việt Nam với tổng kinh phí là 50 triệu USD. Theo đó, tổng kinh phí dự án là hơn 50 triệu USD, trong đó, Quỹ Bill & Melinda Gates viện trợ không hoàn lại 30 triệu USD, Microsof tài trợ 3,6 triệu USD (để mua máy tính) và số còn lại là vốn đối ứng của Việt Nam. Trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2011 đến năm 2016, dự án sẽ cung cấp, lắp đặt hơn 12.000 máy tính nối mạng Internet băng thông rộng và thiết bị phụ trợ cho 1.900 điểm thư viện cộng và BĐVHX, đào tạo kỹ năng cho gần 2.000 cán bộ quản lý, nhân viên. Nhờ đó, dự kiến sẽ có thêm khoảng 760.000 người ở nông thôn được sử dụng máy tính và Internet. Theo Nông nghiệp Việt Nam Tin liên quan

Ngày hội internet” tại tỉnh Sóc Trăng

14:54:00 16/09/2013 Ban quan lý (BQL) Dự án Quỹ Bill&Melinda Gates, vừa tổ chức “Ngày hội internet” tại các địa phương trong tỉnh Sóc Trăng. Sự kiện này đã thu hút đông đảo bà con trên địa bàn, nhất là các bạn trẻ tham gia; tạo không khí vui tươi, phấn khởi với nhiều hoạt động bổ ích và ý nghĩa. Sự kiện này thuộc khuôn khổ Dự án nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập internet công cộng tại Việt Nam do Quỹ Bill&Melinda Gates tài trợ, đang triển khai tại 12 tỉnh, thành của Việt Nam, trong đó có Sóc Trăng. Đây là hoạt động được nhiều người, nhất là các bạn trẻ, học sinh, sinh viên mong đợi. Em Lâm Thị Cẩm Tiên, học sinh Trường THCS&THPT Thạnh Tân, huyện Thạnh Trị (Sóc Trăng) cho biết: Khi biết “Ngày hội internet” sẽ được tổ chức tại xã, em và các bạn trong trường thật sự rất háo hức. Chúng em đến Bưu điện văn hoá xã từ sáng sớm để được tham gia. Ngày hội giúp ích rất nhiều cho việc học của em, cũng như được tiếp cận với các thông tin liên quan đến cuộc sống tốt hơn với khả năng sử dụng máy tính và truy cập mạng được nâng cao”. Ngày hội internet” còn góp phần tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá rộng rãi những tiện ích của việc sử dụng máy tính, truy nhập internet đến đông đảo nhân dân trên địa bàn và bạn đọc của thư viện các địa phương. Đồng thời, góp phần nâng cao năng lực phục vụ, cung cấp thông tin qua máy tính và internet cho các thư viện công cộng, điểm bưu điện văn hóa xã; hỗ trợ người nghèo, người sống ở vùng đặc biệt khó khăn ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ thông tin. Mọi người được hướng dẫn sử dụng internet, tìm kiếm những thông tin hữu ích phục vụ phát triển kinh tế; tìm hiểu các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tra cứu những thông tin liên quan đến sức khỏe, đời sống, lao động, việc làm, cũng như sử dụng internet để phục vụ cho học tập, vui chơi, giải trí Văn Đức

HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM

TVQGVN hiện có quan hệ hợp tác đều đặn với 80 thư viện thuộc 30 quốc gia trên thế giới trên các phương diện trao đổi tài liệu, trao đổi và đào tạo cán bộ, tổ chức sự kiện, triển khai các dự án hợp tác liên quốc gia… Từ năm 2000, TVQGVN đã chính thức gia nhập Hiệp hội quốc tế các hội và cơ quan thư viện (IFLA) và Đại hội cán bộ thư viện các quốc gia Đông Nam Á (CONSAL), là thành viên chính thức của Hội nghị Giám đốc Thư viện quốc gia các nước trên thế giới (CDNL) và trong khu vực Châu Á - Châu Đại Dương (CDNLAO); năm 2007 tham gia Mạng lưới các Thư viện Quốc gia số của các nước nói tiếng Pháp (RFBNN). Ngoài việc tham gia đều đặn và tích cực vào các hoạt động của các tổ chức nghề nghiệp nói trên, TVQGVN đã phối hợp với các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế như Hội nghị, hội thảo chuyên môn khu vực ASEAN, nói chuyện chuyên đề với các diễn giả nước ngoài, triển lãm sách báo, tư liệu, tổ chức ngày hội đọc sách,… Bên cạnh đó còn phối hợp thực hiện nhiều chương trình, dự án hợp tác với nước ngoài mang lại lợi ích không chỉ cho TVQGVN mà còn lan tỏa đến các thư viện trong toàn hệ thống, đáng chú ý nhất là các dự án sau: * Dự án tài trợ sách cho các thư viện Việt Nam của Quỹ Châu Á (Hoa Kỳ): với số lượng sách tài trợ hàng năm tính từ năm 2000 đến nay là 40.000 cuốn sách tiếng Anh mỗi năm cho hơn 120 thư viện công cộng, đại học và chuyên ngành; 16 bộ máy vi tính và máy in cho TVQGVN và 9 thư viện có hệ thống Phòng đọc sách tiếng Anh do Quỹ Châu Á tài trợ; 03 chương trình Ngoại giao công chúng trên phạm vi cả nước trị giá lên tới 120.000USD trong 3 năm 2005-2007 với nhiều hoạt động cổ vũ văn hóa đọc như triển lãm sách Quỹ Châu Á, thi kể chuyện, vẽ tranh cho thiếu nhi, đố vui cho sinh viên, thi viết luận tiếng Anh để tìm ra 3 “Đại sứ văn hóa” Việt Nam sang giao lưu với sinh viên Hoa Kỳ. Thư viện quốc gia Việt Nam là đối tác tại Việt Nam của QCA để triển khai các chương trình, dự án này. * Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu chung CONSAL: TVQGVN đã tiếp nhận 01 máy Scanner Minolta PS 7000 và 1 máy tính trị giá 10.000 USD và đã hoàn thành việc số hóa 322 cuốn sách giới thiệu về Việt Nam bằng tiếng Anh góp lên cơ sở dữ liệu chung của khu vực. * Dự án Microfilm các sách báo trước năm 1954 với Thư viện Nghiên cứu Mỹ: nhận 1 máy đọc microfilm và 1 máy in trị giá 24.000 USD, 3 đợt nhận phim cuộn và vật tư cho chụp microfilm trị giá khoảng trên 2.500 USD. * Dự án với Quỹ Force (Hà Lan): nhận 4 đầu đọc trợ giúp thị lực và 1 máy đọc chữ nổi và tổ chức Hội thảo về sản xuất sách nổi cho người khiếm thị. * Dự án dịch và xuất bản Khung phân loại thập phân Dewey, ấn bản rút gọn 14 từ tiếng Anh sang tiếng Việt: trị giá 100.000 USD do Quỹ Atlantic Philanthropies và Đại học quốc tế RMIT tài trợ (2004-2006). Trong năm 2010, 2 đơn vị này đã tiếp tục tài trợ cho TVQGVN kinh phí mua phần mềm dịch và xuất bản tiếp tục Khung phân loại DDC22, ấn bản đầy đủ sang tiếng Việt trị giá 40.000 USD cho giai đoạn 2010-2012. * Dự án dịch các tài liệu về bảo quản và tổ chức đào tạo kỹ năng bảo quản tài liệu cho các thư viện của Việt Nam: do Quỹ Ford tài trợ trị giá hơn 40.000 USD. Bên cạnh đó, Quỹ cũng đã tài trợ 07 học bổng toàn phần đào tạo tiếng Anh cho cán bộ TVQG tại Tp. Hồ Chí Minh. * Dự án với Pháp: TVQGVN đã xử lý và tạo lập CSDL với khoảng 23.423 biểu ghi có ở kho Đông Dương trong dự án Thư viện điện tử bằng tiếng Pháp cho vùng Châu Á – Thái Bình Dương (BEFAP) do Quỹ Francophone des Inforoutes tài trợ. Từ năm 2006, bắt đầu triển khai dự án VALEASE (Phát huy hệ thống thư tịch cổ ở Đông Nam Á) do Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Việt Nam tài trợ. Trong khuôn khổ dự án này, phía Pháp đã cung cấp cho TVQGVN 01 máy scanner khổ lớn trị giá gần 30.000 USD, TVQGVN đã số hóa được 89.512 trang sách thuộc bộ sưu tập sách Đông Dương mà phía Pháp yêu cầu. * Dự án nâng cấp Phòng đọc tự chọn sách Khoa học tự nhiên và Phòng đọc theo yêu cầu: do Đại sứ quán Hàn Quốc và Công ty SK Telecom/ Hàn Quốc tài trợ (trang bị toàn bộ thiết bị nội thất và máy vi tính cho thủ thư, bàn ghế, giá sách, cổng từ, Ti vi màn hình lớn,..) trị giá lên tới gần 200.000 USD và 5000 cuốn sách tiếng Hàn (2006, 2007). * Dự án đưa 01 chuyên gia tình nguyện Australia về lĩnh vực bảo quản tài liệu giấy về làm việc tại Thư viện quốc gia trong 2 năm 2007-2008 do quỹ VIDA/ Australia tài trợ. * Dự án số hóa tài liệu Hán Nôm : TVQGVN phối hợp cùng Hội bảo tồn di sản chữ Nôm Việt Nam (Hoa Kỳ) đã tiến hành số hóa và đưa cơ sở dữ liệu toàn văn tài liệu Hán Nôm của TVQGVN lên trang web của thư viện để phục vụ đông đảo bạn đọc. Trong khuôn khổ dự án, TVQGVN đã được trang bị máy scan hiện đại. * Dự án thí điểm nâng cao năng lực công nghệ thông tin cho cán bộ thư viện do Quỹ Bill and Melinda Gates/ Hoa Kỳ tài trợ thông qua Quỹ Châu Á là đơn vị điều phối chính triển khai trên 3 mảng hoạt động: (i) khảo sát nhu cầu đào tạo và thực trạng năng lực của 99 thư viện và điểm BĐVHX, (ii) tổ chức 15 lớp đào tạo Kỹ năng phục vụ bạn đọc cho 255 cán bộ thư viện tỉnh, huyện, xã, cán bộ văn hóa và điểm Bưu điện văn hóa xã, (iii) tổ chức 45 ngày hội Internet trên 3 tỉnh Thái Nguyên, Nghệ An và Trà Vinh để cổ vũ việc sử dụng máy tính và internet phục vụ công việc, học tập và đời sống cho nhân dân (2009-2010). * Dự án Biên mục trên xuất bản phẩm trị giá 80.000 USD: TVQGVN phối hợp với Đại học quốc tế RMIT triển khai với sự tham gia của 59/60 NXB ở Việt Nam. Dự án góp phần chuẩn hóa công tác xử lý nghiệp vụ thư viện trong cả nước và góp phần tiết kiệm kinh phí và nguồn nhân lực thư viện trong khâu xử lý kỹ thuật tài liệu (2009-2011). Ngoài ra, TVQGVN đã tổ chức thành công một số hội thảo quốc tế về chuyên môn nghiệp vụ thư viện như các hội thảo về kỹ thuật bảo quản tài liệu với chuyên gia bảo quản đến từ Mỹ, Đức, Nhật Bản; hội thảo thử nghiệm bộ tài liệu mới của Tiểu ban tự do thông tin và tự do thể hiện/ IFLA về sự minh bạch trong thư viện; triển lãm tư liệu Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến tại Paris/ Pháp và Viêng Chăn/ Lào. Sự kiện hợp tác quốc tế nổi bật là TVQGVN đã đăng cai và tổ chức thành công 02 sự kiện quốc tế lớn là Đại hội Cán bộ Thư viện các nước Đông Nam Á lần thứ 14 (CONSAL XIV) nhiệm kỳ 2006-2009 với 3 Hội nghị trù bị Ban Chấp hành tại Huế, Hồ Chí Minh và Hà Nội có đủ 10 nước thành viên tham dự; Đại hội toàn thể CONSAL XIV với gần 1000 đại biểu tham dự, trong đó có 330 đại biểu nước ngoài đến từ 27 nước. Hội nghị Giám đốc Thư viện quốc gia các nước Châu Á - Châu Đại dương lần thứ XVII tại Hà Nội với 24 đại biểu đến từ 16 nước. Trên mảng hợp tác song phương, TVQGVN đã ký biên bản ghi nhớ chương trình hợp tác với các đơn vị như Trường Đại học Tsukuba/ Nhật bản, Thư viện quốc gia Tây Ban Nha, Thư viện quốc gia Hàn Quốc, Viện Goethe Việt Nam, Quỹ Châu Á/ Hoa Kỳ về trao đổi tài liệu và đào tạo cán bộ. Từ năm 2000-2010, TVQGVN đã đón tiếp 549 đoàn khách nước ngoài (gồm 2062 khách) đến thăm quan, làm việc với TVQGVN và cử 136 đoàn (263 cán bộ) đi tập huấn và đào tạo tại nước ngoài. Trên mảng đào tạo cán bộ, các đối tác chính là Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam, Thư viện quốc gia Malaysia, Hội đồng thư viện quốc gia Singapore, Đại học quốc tế RMIT/ Australia, Đại học Victoria/ New Zealand. Ngoài ra, TVQGVN cũng đã giúp đỡ tìm kiếm các xuất học bổng đào tạo ngắn hạn tại Ấn Độ, Singapore, Hàn Quốc và Malaysia cho hơn 20 cán bộ thư viện các tỉnh thành trên cả nước.
Ngày 10-11/9/2013, tại Thành phố Đà Nẵng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết 3 năm hoạt động của hệ thống thư viện công cộng (2011-2013), với sự tham dự của đại biểu ngành thư viện trên khắp các địa phương trong cả nước. Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái dự và chủ trì Hội nghị. 9-10-2013-so-ket-3nam-tvcc-08 Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 3 năm hoạt động của hệ thống thư viện công cộng (2011-2013) Hội nghị đã nghe báo cáo Sơ kết tình hình hoạt động của hệ thống thư viện trong 3 năm. Qua đó, bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Vụ trưởng Vụ Thư viện (Bộ VHTTDL) đã đánh giá hệ thống thư viện công cộng đạt được những thành tựu cơ bản như: Công tác thư viện ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm; công tác chỉ đạo của toàn ngành trong lĩnh vực thư viện đã bám sát và cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, bám sát thực tiễn, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho hoạt động thư viện của địa phương, tập trung công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; thư viện công cộng có bước phát triển mới cả về cơ sở vật chất, kỹ thuật, đội ngũ cán bộ, phương thức hoạt động theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển mạng lưới đặc biệt cấp xã, hoạt động thư viện bám sát và phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của đất nước, của ngành, góp phần khơi dậy văn hóa đọc trong nhân dân trong bối cảnh văn hóa nghe-nhìn đang lấn lướt. Báo cáo cũng nêu ra những khó khăn, hạn chế tồn tại hiện nay như: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực còn thiếu các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất như Luật Thư viện, cũng như các văn bản có nội dung phục vụ cho công tác quản lý và chuyên môn nghiệp vụ; công tác kiểm tra, giám sát hoạt động thư viện, việc thực hiện các chương trình công tác của ngành, đặc biệt là Chương trình Mục tiêu quốc gia ở địa phương còn chưa được thường xuyên, kịp thời; sự quan tâm đầu tư của các cấp, ngành cho thư viện ở nhiều địa phương chưa thật sự được quan tâm. Tại hội nghị, bà Kiều Thúy Nga, Phó Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam đã trình bày tham luận báo cáo khái quát thành tựu tiêu biểu của Thư viện Quốc gia Việt Nam trong 3 năm (2011-2013) và đề xuất một số kiến nghị với Bộ VHTTDL và các Bộ, ngành liên quan. 9-10-2013-so-ket-3nam-tvcc-02 Bà Kiều Thúy Nga - Phó Giám đốc, đại diện TVQG tham dự Hội nghị Hội nghị cũng được nghe báo cáo tham luận của một số tỉnh, thành về kết quả và kinh nghiệm hoạt động, đa dạng hình thức phục vụ bạn đọc, làm sáng tỏ hơn vai trò, tầm quan trọng cũng như những bất cập, tồn tại trong quá trình hoạt động của hệ thống thư viện. Hội nghị đã thống nhất từ 2014-2015, hệ thống thư viện công cộng sẽ tập trung thực hiện 8 nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp, gồm: Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hỗ trợ cho sự phát triển của sự nghiệp và các hoạt động của thư viện; tiếp tục quan tâm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thư viện có đủ khả năng quản lý và hoạt động trong các thư viện hiện đại; tiếp tục xây dựng và áp dụng các chuẩn nghiệp vụ; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động thư viện và cải thiện dịch vụ cho người sử dụng; xác định các phương thức hoạt động hiệu quả cho các thư viện công cộng; tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết cho các dịch vụ của người sử dụng; kết nối người sử dụng với các dịch vụ và các sản phẩm của thư viện; sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí hiện tại và tìm kiếm nguồn kinh phí cho các hoạt động phát triển của thư viện. Trong khuôn khổ Hội nghị Sơ kết 3 năm hoạt động của hệ thống thư viện công cộng (2011 - 2013), tối 10/9/2013, tại Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh – Thành phố Đà Nẵng đã diễn ra Liên hoan Tiếng hát cán bộ ngành Thư viện lần thứ III. 18 tiết mục đặc sắc được trình diễn tại Liên hoan là những lời ca, điệu múa ca ngợi quê hương, đất nước, con người Việt Nam; ca ngợi ngành nghề và những tâm tình của người cán bộ thư viện. Đội văn nghệ Thư viện Quốc gia Việt Nam đem đến Liên hoan 2 tiết mục hát và múa, đã tạo nên nhiều cung bậc cảm xúc trong lòng người xem. ___________ Tin, ảnh: Khánh Vân

SỬ DỤNG CÁC KHUNG PHÂN LOẠI CỦA THƯ VIỆN ĐỂ TÌM TÀI NGUYÊN TRÊN INTERNET

Các chuyên gia và thủ thư từ lâu đã công nhận tiềm năng của những chương trình phân loại dùng cho thư viện để truy cập thông tin theo chủ đề tốt hơn. Trong một bài báo đăng hồi năm 1983, Svenonius mô tả một vài phương cách sử dụng hệ phân loại trong các hệ thống thu thập thông tin trực tuyến, gồm những mục tiêu sau đây: (1) làm sao có thể tìm chính xác hơn, và có thể gọi lại được, (2) tạo được bối cảnh cho các từ tìm kiếm, (3) cho phép trình duyệt (4) sử dụng như một cơ chế để chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Trong dự án trực tuyến Hệ phân loại thập phân Dewey (DDC) (Markey và Demeyer 1986), Markey đã thực hiện lần đầu tiên hệ phân loại thư viện đến tận người sử dụng cho họ truy cập chủ đề, và duyệt trình. Mặc dù nhiều biên mục trực tuyến cho phép truy cập theo ký hiệu riêng , rất ít cơ quan sử dụng hệ phân loại theo cách mà Svenonius mô tả hoặc do Markey tìm hiểu trong ý tưởng sử dụng DDC sáng tạo trên biên mục thử nghiệm trực tuyến, mà biên mục này cho phép người sử dụng trực tuyến tìm kiếm theo phân loại. Mãi đến thời gian gần đây, gần 10 năm sau nghiên cứu tiên phong của Markey, việc sử dụng ký hiệu phân loại trực tuyến mới được xem xét nghiêm túc như một công cụ để cho chúng ta những khả năng duyệt trình tiên tiến và truy xuất dữ liệu trong các hệ thống trực tuyến. Số liệu phân loại trực tuyến Một số yếu tố gây chậm chễ cho việc ứng dụng Hệ phân loại DDC và Hệ phân loại của Thư viện Quốc Hội Mỹ (LCC) là mã hóa để đọc được trên máy. Quá trình tin học hóa DDC bắt đầu bằng việc đưa ra phiên bản DDC19 (1979). Việc phát triển này và phần nghiên cứu của Markey đã gợi mở cho Forest Press, hồi năm 1984, chạy thử phần mềm Inforonics- hệ hỗ trợ hiệu đính trực tuyến (ESS) cho Phân loại Dewey. Các bạn có thể xem thêm hai tác giả Finni và Paulson (1987) về phần mô tả cách thức triển Dewey ESS. Hệ thống đó- kết quả của phần thực hiện này, và cơ sở dữ liệu đã được sử dụng để cho ra đời DDC 20 (1989), hệ phân loại đầu tiên sử dụng hệ thống hỗ trợ hiệu đính trực tuyến. Hệ thống phân loại và Internet Phiên bản điện tử của DDC giúp ta có thể hiện thực hóa tiềm năng của hệ phân loại thư viện để giúp việc truy xuất theo chủ đề dễ dàng hơn; tuy nhiên, nhiều mối quan tâm mới trong phân loại – coi đó như là một thiết bị để tổ chức và truy xuất các nguồn thông tin đã bừng sáng cùng sự phát triển sử dụng Internet và Mạng rộng toàn cầu World Wide Web (WWW). Một vài địa chỉ WWW cho phép người sử dụng khả năng tìm kiếm theo từ và cụm từ để truy xuất những chủ điểm và nội dung họ quan tâm, với hai địa chỉ thông dụng nhất là Yahoo và Infoseek, bổ sung thêm khả năng cho người sử dụng định hướng thông qua một loạt những hạng loại xắp xếp theo chủ đề để phát hiện những tài liệu liên quan tiềm năng khác. Mặc dầu Yahoo và Infoseek sử dụng thiết yếu đầu vào như nhau (tài liệu WWW và các tệp tài liệu của các nhóm thông tin Internet) làm cơ sở cho các cấu trúc chủ đề, những hạng loại được trình ra cho người sử dụng hoàn toàn khác nhau. Chủ đề lớn như “Giáo dục” được tìm thấy ở lớp trên cùng của cả Yahoo và Infoseek. Tuy nhiên, lớp tiếp theo đó dưới mục “Giáo dục” trong từng hệ thống lại là một tổ chức rất khác với chủ đề. Trong Yahoo (see appendix A) http://www.yahoo.com/ có hơn 30 tiểu hạng loại duyệt trình các chủ điểm liên quan đến giáo dục trong khi đó Infoseek (see appendix B) http://guide.infoseek.com/ trình bày đề cương của người học. Các chương trình phân loại thư viện từ lâu đã có công cụ tương tự cho các tài liệu thư viện. Những hạng loại theo chủ điểm tìm thấy trong DDC dựa nhiều trên những chủ đề trong các tài liệu chuyên khảo dạng thức của sách truyền thống. Đối với sách in thì những phần tóm tắt của Dewey http://www.oclc.org/fp/ nêu đại cương có chức năng tương đương phân hạng loại theo chủ điểm của Yahoo và Infoseek. Trong thực tế, một số địa chỉ phi thương mại của WWW đang sử dụng DDC để cho mọi người truy cập theo chủ điểm đến những tài liệu có thể truy cập được trên Web (mạng thông tin toàn cầu). Những đặc tính chính của DDC và LCC DDC và LCC là những hệ thống phân loại chung Chan, Comaromi, và Satija nhắc nhở chúng ta rằng mục đích của Hệ phân loại thập phân Dewey là xắp xếp chung phần thu thập tài liệu “DDC nhằm phân loại sách và tài liệu khác về tất cả các chủ điểm của tất cả các ngôn ngữ trong bất kỳ kiểu thư viện nào.” Cũng giống như thế, LCC được thiết kế để cho ta một trật tự thu thập chung, bộ thu thập của Thư viện Quốc hội Mỹ. Mặc dù dựa trên bộ thu thập của một thư viện duy nhất, Hệ phân loại LC đã được nhiều thư viện nghiên cứu và hàn lâm chấp nhận ứng dụng thành công. DDC và LCC có một cấu trúc theo tầng bậc Mối quan hệ tầng bậc là bản chất của tất cả các loại phân loại. Các hệ phân loại có tính liệt kê, cho ta xắp xếp các chủ điểm theo bộ nguyên tắc dựa trên triết lý về tổ chức kiến thức đã được chấp nhận, theo những mẫu đã được thiết lập trên cơ sở bảo đảm tác quyền, và thường là kết hợp cả hai. Tuy nhiên, trật tự xếp loại bản thân nó không tự minh chứng. Cần phải có một phương pháp nào đó, hoặc phương tiện nào đó để duy trì mối quan hệ giữa các ngàng, tiểu ngành, chủ đề và tiểu đề. Ví dụ trong DDC, những mối quan hệ này được duy trì và hoạt động thông qua ghi chú tầng bậc. LCC thì không theo kiểu mẫu này. Phần ghi chú duy trì trật tự xắp xếp song lại không phản ánh tầng bậc. 600 Technology (Applied sciences) 660 Chemical engineering and related technologies 663 Beverage technology 663.2 Wine and wine making 663.22 Specific kinds of grape wine 663.222 White wine 663.223 Red wine 663.224 Sparkling wine Trong hệ Phân loại LC và trong các cây hạng loại của Yahoo, tầng bậc được thể hiện bằng chấm thụt đầu dòng của hạng loại và tên ngành. Computers and Internet Internet Entertainment Interesting Devices Connected to the Net Spy Cameras Indoor Cameras Outdoor Cameras Pets@ Aquariums Những ví dụ trên cho thấy rằng cả các chương trình phân loại Internet và phân loại thư viện cho ta các cấu trúc tầng bậc hỗ trợ duyệt tìm theo chủ đề. Các chương trình thư viện dường như có lợi thế hơn so với các chương trình duyệt tìm dựa trên Internet vì có kèm ghi chú hỗ trợ tìm kiếm các mối quan hệ theo ngành. Vậy thì chương trình phân loại thư viện hay các trình duyệt trên Internet? Bài này chỉ xem xét một số đặc tính của các chương trình phân loại DDC và LCC cho phép các chương trình này thích hợp với việc truy cập theo chủ điểm vào các nguồn Internet. Tổng kết lại, DDC và LCC là : Các chương trình phân loại chung. có Có cấu trúc tầng bậc và ghi chú xếp trình tự các ngành Những liên kết với các chương trình phân loại chủ điểm khác và Những liên kết với phần dịch sang các ngôn ngữ khác. (hiện nay chỉ DDC mới có) Cho dù có những lợi thế như vậy, vẫn cần cải tiến thêm nếu như ta cần sử dụng số liệu phân loại trực tuyến làm công cụ chính để truy cập các bộ sưu tập truyền thống cũng như các nguồn có thể truy cập được trên Internet. Những mục cần cải tiến này là: Đánh giá các tiêu đề của DDC và LCC về mức độ chính xác và diễn đạt. Phân tách và mã hóa các thành phần số ngành để xác định chủ điểm cụ thể và các lĩnh vực trình bày. Tiếp tục bổ sung thuật ngữ mới làm các từ chỉ khoản mục cho dù mỗi từ chưa có số riêng. Mở rộng kết nối đến những biểu từ vựng được kiểm soát khác. Mở rộng định nghĩa bảo đảm tác quyền để gộp các nguồn Internet vào. Xây dựng những hệ thống trình diễn. Hiện tại trong bối cảnh của DDC, mục 1 và 2 đã làm, mục 3 và 4 đang thực hiện cùng với những cam kết trong ngành thư viện. ______________ Phạm Kim Thanh: Thư viện Quốc gia Việt Nam (Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam) < Prev Next >